top of page

Tích Truyện Kinh Pháp Cú 07,08 - TIỂU HẮC và ĐẠI HẮC

Đã cập nhật: 12 thg 7




“Subhānupassiṃ viharantaṃ, Indriyesu asaṃvutaṃ; Bhojanamhi amattaññuṃ, Kusītaṃ hīnavīriyaṃ; Taṃ ve pasahati māro, Vāto rukkhaṃ’va dubbalaṃ”.

Ai sống nhìn tịnh tướng, Không hộ trì các căn, Ăn uống thiếu tiết độ, Biếng nhác, chẳng tinh cần. Ma uy hiếp kẻ ấy, Như cây yếu trước gió.

“Asubhānupassiṃ viharantaṃ, Indriyesu susaṃvutaṃ; Bhojanamhi ca mattaññuṃ, Saddhaṃ āraddhavīriyaṃ; Taṃ ve nappasahati māro, Vāto selaṃ’va pabbatanti”.

Ai sống quán bất tịnh, Khéo hộ trì các căn, Ăn uống có tiết độ, Có lòng tin, tinh cần, Ma không uy hiếp được, Như núi đá, trước gió.


Kệ Pháp Cú 7 và 8 nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự gần thành

Setabya, trong rừng Simsapa, đề cập đến hai anh em Cullakāḷa và Mahākāḷa.


Cullakāḷa (Tiểu Hắc), Majjhimakāḷa (Trung Hắc) và Mahākāḷa (Đại Hắc) là ba

anh em Trưởng giả ở thành Setabya. Trong ba người, anh cả và em út chuyên đi xứ xa

bổ hàng trở về bằng năm trăm cỗ xe bò, người giữa ở lại xứ nhà lo việc buôn bán.


Công việc hợp tác buôn bán giữa ba anh em vẫn trôi chảy đều đều như vậy, cho

đến một lúc nọ sau khi chất đủ thứ hàng hóa đầy năm trăm cỗ xe bò. Hai vị thương

khách lên đường trở về thành Sāvatthī. Đến khoảng giữa đường của thành Sāvatthī và

chùa Jetavana. Họ cho đoàn xe dừng lại và mở thả bò ra, nghỉ đêm tại đó.


Sáng hôm sau, Trưởng giả Mahākāḷa trông thấy các thánh Thinh Văn ở thành

Sāvatthī, tay cầm hương hoa lễ vật đi nghe thuyết pháp. Trưởng giả Mahākāḷa bèn

hỏi:


- Mấy người nầy đi đâu vậy?


Khi biết mục đích của cuộc hành hương. Trưởng giả Mahākāḷa nói thầm: “Ta

cũng đi nữa”.


Nghĩ rồi Trưởng giả kêu em út và dặn rằng:


- Nầy em! Em hãy ở đây trông chừng đoàn xe, để anh đi nghe thuyết pháp.


Dặn em rồi, Mahākāḷa ra đi, đến đảnh lễ Đức Như Lai xong, ngồi xuống một nơi

ngoài vòng cử tọa.


Ngày ấy, tùy theo trình độ của Mahākāḷa, Đức Bổn Sư đã thuyết tuần tự pháp,

giảng giải kinh Khổ Uẩn và các kinh khác nữa, chỉ rành chỗ tai hại, lầm lỗi, ô nhiễm

của Ngũ trần dục lạc.


Mahākāḷa nghe pháp xong tự nghĩ: “Trước sau gì con người cũng phải một lần ra

đi, phủi tay bỏ hết những vật hiện hữu, một mình lẻ loi sang cảnh giới khác, của tiền,

thân quyến nào có ai theo. Vậy ta còn nấn ná ở nhà làm gì? Ta nhất định sẽ xuất gia”.


Chờ cho đại chúng trong hội trường đảnh lễ Đức Bổn Sư ra về hết. Mahākāḷa

đến xin Đức Bổn Sư cho mình được xuất gia.


Đức Bổn Sư bèn hỏi:


- Ông còn có ai mà phải từ giã không?


- Bạch Ngài! Con còn có đứa em trai út.


- Nếu vậy, ông hãy trở về từ giã đứa em trai út của ông đi.


- Sādhu! Bạch Ngài.


Đáp xong Mahākāḷa trở về chỗ đoàn xe, tìm gặp Cullakāḷa và bảo: “Nầy em! Em

hãy nhận làm chủ hết cả tài vật nầy đi”.


- Còn anh thì sao? Thưa anh! Anh sẽ đi đâu?


- Anh sẽ đến xuất gia với Đức Bổn Sư.


Cullakāḷa viện đủ lí lẽ để anh mình từ bỏ ý định xuất gia, nhưng không được.

Rốt cuộc Cullakāḷa bảo:


- Sādhu! Lành thay, xin Trưởng huynh hãy làm theo ý định.


Mahākāḷa bèn xuất gia với Đức Bổn Sư.


Kế đó, Cullakāḷa cũng xuất gia, nhưng trong tâm tính thầm rằng: “Hễ lôi kéo anh

ta ra được rồi thì ta cũng sẽ hoàn tục”. Thời gian sau, Mahākāḷa thọ Cụ túc giới, tu lên

bậc trên xong, bèn đến đảnh lễ Đức Bổn Sư và hỏi về hai pháp trọng yếu trong Phật

giáo.


Sau khi nghe Đức Bổn Sư thuyết minh về hai pháp ấy, Mahākāḷa bạch rằng:


- Bạch Ngài! Con nay đã lớn tuổi rồi mới xuất gia, chắc không kham nổi Pháp

học cho trọn đủ được, nhưng con có thể hy vọng thành tựu pháp hành Minh Sát.


Thế rồi, Tỳ khưu Mahākāḷa học lấy đề mục bất tịnh (tử thi) để niệm cho đắc quả

A La Hán và thọ trì chi đầu đà ngụ nơi mộ địa (Sosanikadhutaṅga).


Lối cuối canh đầu, khi mọi người đều an giấc, Trưởng lão Mahākāḷa đi vào mộ

địa hành thiền và khi mặt trời gần sáng, trước khi thiên hạ thức dậy, Trưởng lão trở về

chùa.


Khi ấy, người giữ mộ địa là một phụ nữ, tên là Kāḷī, có phận sự thiêu xác chết,

thấy bóng Trưởng lão Mahākāḷa thấp thoáng giữa canh khuya, khi đứng, khi ngồi,

hoặc đi tới đi lui trong nghĩa địa, bèn tự hỏi: “Ai mà vào chi đây, ta phải rình coi cho

biết mặt”.


Nhưng rình coi mãi cũng không thể đoán biết được người ấy là ai? Một hôm

Kāḷī thắp một cây đèn treo trong nhà thiêu xác rồi dắt con trai, con gái ra núp ở một

phía bên ngoài. Gần nữa đêm Kāḷī thấy Trưởng lão đi đến, bèn ra đảnh lễ Trưởng lão

và hỏi:


- Bạch Ngài! Một vị Sư cao quí như Ngài mà ngụ ở chỗ nầy sao?


- Phải đó, cô tín nữ.


- Bạch Ngài, Ngài cư ngụ nơi mộ địa cần phải tuân theo một vài thủ tục.


Trưởng lão không nói: “Cô tưởng rằng ta sẽ làm theo những quy tắc của cô đưa

ra hay sao?”. Nhưng Trưởng lão chỉ hỏi:


- Nầy cô tín nữ! Tôi phải tuân hành theo những thủ tục gì?


- Bạch Ngài! Người cư ngụ nơi mộ địa cho vị trụ trì chùa mình và cho vị xã

trưởng trong làng mình hay biết.


- Vì lí do nào?


- Dạ! Bởi vì bọn ăn trộm sua khi lấy được đồ, khi bị chủ nhà rượt đuổi theo, túng

nước thường hay ném tang vật vào trong mộ địa để thoát thân. Bởi thế người ta mới

hăm dọa những người cư ngụ trong mộ địa, nhưng nếu Ngài đã có trình báo đàng

hoàng với nhà chức trách, thì khỏi lo phiền phức về sau vì đã được những người có

thẩm quyền chứng nhận rằng: “Chúng tôi chứng nhận vị Đại đức nầy có khai báo

trong thời gian cư ngụ nơi đây vị nầy không phải là kẻ trộm”. Do đó mà Ngài cần

trình báo với người hữu trách đúng theo thủ tục.


Trưởng lão lại hỏi:


- Ngoài ra còn phải làm gì nữa không?


- Bạch Ngài, trong thời gian cư ngụ nơi mộ địa, Ngài phải kiêng cử cả thịt, cá,

mè, trứng, đường mật, bột… Ngài không được ngủ ngày, không nên lười biếng. Ngài

phải luôn luôn tinh cần dũng mãnh, không có sự gian dối, phải có nhiều thiện chí.

Buổi tối chờ khi mọi người ngủ hết rồi, Ngài mới nên từ chùa đến đây. Gần sáng mọi

người chưa thức dậy, Ngài nên trở về chùa.


Bạch Ngài, nếu như Ngài cư ngụ nơi đây, hành y như thế mà đạt đến mục đích

tối cao của đời tu sĩ, thì hễ khi nào có tử thi mang đến vứt bỏ tại đây, tôi sẽ đem xác

ấy vô nhà thiêu dùng hương hoa lễ vật cúng tế vong linh của người quá cố.


Nhược bằng Ngài không thành tựu được theo cách ấy thì tôi sẽ đặt tử thi lên giàn

hỏa châm lửa đốt, lại lấy cây cọ nhồi đâm cho xì nước, rồi lôi ra ngoài dùng búa đẻo

chặt đứt ra nhiều khúc ném trở vào lửa, để Ngài chứng kiến rồi lấy đó làm đề mục

tham thiền.


Nghe xong, Trưởng lão đáp:


- Sādhu! Lành thay, vậy khi cô thấy có xác nào có thể làm đề mục niệm tử thi

được, thì báo tin cho ta.


Sau đó, trong khi chờ đợi, Trưởng lão Mahākāḷa vẫn noi theo bổn nguyện hành

Sa môn pháp ở nơi mộ địa.


Trưởng lão Cullakāḷa vốn tánh hoạt bát, hiếu động, không thích ngồi yên, chỉ

tưởng nghĩ đến gia đình, thương nhớ vợ con, Trưởng lão nói thầm: “Anh ta lựa chi

con đường tu hành quá khổ khắc như thế không biết”.


Khi ấy, có một thiếu phụ con nhà giàu sang vướng bịnh thình lình, sớm đau

chiều chết, nên thi thể không sút kém tồi tàn.


Đầu hôm, thân quyến bạn bè của cô đưa xác cô ta vào mộ địa với củi khô, dầu và

các món vật dụng để thiêu xác, rồi bảo cô giữ mộ địa: “Hãy thiêu xác nầy đi”.


Trả trước lệ phí, những người ấy giao xác cho cô giữ mộ địa.


Khi cô giữ mộ địa cởi hết y phục của thiếu phụ chết ra. Thì thấy lồ lộ nguyên cả

thân hình, tròn trịa xinh xắn, một màu vàng ánh. Cô ta nghĩ ngay rằng: “Tử thi nầy là

một đề mục thích ứng vừa cho ta thỉnh Trưởng lão tới quán niệm”.


Cô ta lập tức đi tìm Trưởng lão, đảnh lễ xong rồi bạch rằng:


- Tôi vừa mới được một tử thi làm đề mục niệm tốt vô cùng, xin thỉnh Ngài đến

quán sát.


- Sādhu! Lành thay!


Đáp lời xong, Trưởng lão đến ngay, khiến giở lớp y phục che phủ trên tử thi và

nhìn kỹ từ gót chân lên ngọn tóc. Rồi Trưởng lão bảo: “Hãy ném cái xác thân đẹp đẽ

vàng ánh nầy vào lửa và khi nào lửa bắt đầu cháy xém xác thân thì hoan hỷ báo cho ta

biết”.


Dặn rồi Trưởng lão trở về chỗ cũ của mình và ngồi xuống. Cô giữ mộ địa làm

theo lời dặn rồi đến báo cho Trưởng lão biết. Trưởng lão đến quan sát tử thi, khi lửa

bén cháy tới thịt thì xác thân trở nên màu giống như con bò cái, rồi hai chân rớt ra

đánh tòn ten, hai tay rút lại cong queo, chỗ trán không còn chút da.


Trưởng lão nghĩ thầm: “Cái thi hài nầy khi nãy, ai nhìn tới ắt cũng sanh lòng

thương yêu lưu luyến, mà bây giờ tiêu hoại rã tan như vậy”.


Trở về chỗ cũ, Trưởng lão ngồi xuống, quán xét thấy rõ lý hoại diệt (Khayavaya)

cảm kích ngâm lên mấy câu kệ vô thường:


“Aniccā vata saṅkhārā

Uppādavayadhammino

Uppajjitvā nirujjhanti

Tesaṃ vūpasamo sukhoti”.


Lược dịch:


“Hữu vi quả thật chẳng miên trường,

Sanh diệt xưa nay vẫn sự thường.

Các pháp tự sanh rồi tự diệt,

Diệt sanh tịch tịnh mới an khương”.


Đọc xong bài kệ, Trưởng lão tăng tiến pháp Thiền Minh sát, đắc quả A La Hán

với Tuệ phân tích.


Lúc Trưởng lão đắc A La Hán thì Đức Bổn Sư cùng đại chúng Tỳ khưu cất bước

du hành ngự đến gần thành Setabya vào tịnh cư trong rừng Siṃsapa.


Mấy bà vợ của Cullakāḷa nghe đồn: “Đức Bổn Sư đã về gần đây”, bèn bàn tính

với nhau: “Chúng ta sẽ bắt chồng ta trở lại mới được”, tính rồi họ cho người đi thỉnh

Đức Bổn Sư.


Theo thông lệ của chư Phật, nhà nào muốn thỉnh Phật và chư Tăng thì phải sắp

đặt chỗ ngồi cho có trật tự đúng pháp, thường thì một vị sư được phái đến đó trước để

chỉ biểu cách thức như vậy: Ngay chính giữa là chỗ danh dự để Đức Phật ngự một

mình, phía phải là chỗ của Đại đức Sāriputta, phía tay trái là chỗ của Đại đức

Moggallāna, kể từ đó sắp hai dãy ghế của chư Tăng.


Lúc ấy, Đại đức Mahākāḷa đang đứng trong chỗ để y bát, bèn bảo Trưởng lão

Cullakāḷa: “Sư về đó chỉ biểu sắp đặt chỗ ngồi trước đi”.


Từ lúc người nhà trông thấy Cullakāḷa, họ bày ra chuyện trớ trêu, đem chỗ ghế

thấp sắp ngay hàng đầu nơi chỗ dành riêng cho chư Đại đức và sắp những ghế cao vào

các nơi những vị mới tu.


Tỳ khưu Cullakāḷa nhắc đi nhắc lại:


- Đừng làm như vậy, đừng sắp ghế thấp ở chỗ cao và ghế cao ở chỗ thấp.

Bảo đến lần thứ ba, họ đã chẳng thèm nghe mà hỏi lại:


- Chớ còn ông làm gì mà chẳng chịu ra tay sắp chỗ ngồi, cứ ở không đi tới đi lui

hoài vậy? Lúc đi tu ông có từ giã ai không? Ai cho ông xuất gia? Ông về đây làm gì?


Nói rồi họ ráp nhau xé rách y trong, y ngoài của Trưởng lão Cullakāḷa, lấy

thường phục màu trắng thay cho ông rồi nói:


- Bây giờ ông đi thỉnh Đức Bổn Sư đi để chúng tôi ở nhà mà sắp đặt chỗ ngồi.


Vừa mới tu lên Tỳ khưu chưa có hạ nào, kế hoàn tục vừa theo sở thích nên

Cullakāḷa chẳng chút hổ thẹn, cũng không thắc mắc ngại ngùng vì lối phục sức đó.

Ông ta đi ngay đến nơi Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài xong, xin rước luôn chư Tăng có

Đức Phật làm chủ tọa trở về nhà.


Mấy bà vợ của Trưởng lão Mahākāḷa tính với nhau: “Hai cô nầy đã bắt được

chồng họ quay trở về, chúng ta phải bắt chồng chúng ta quay trở về mới được”.


Tính rồi, mấy bà chờ chư Tăng độ ngọ xong, bèn thỉnh Đức Bổn Sư và chư Tăng

ngày hôm sau, thọ thực nơi nhà của mình.


Lần nầy một vị Tỳ khưu lạ đến trước, chỉ bảo cách sắp đặt chỗ ngồi, mấy bà

không có cơ hội để bắt cóc chồng cũ, bèn thỉnh Đức Phật và chư Tăng an tọa xong,

dâng vật thực.


Lúc bấy giờ có đủ mặt hai bà vợ của Cullakāḷa, bốn bà vợ của Majjhimakāḷa,

tám bà vợ của Mahākāḷa.


Chư Tăng vị nào muốn thọ thực trong nhà thì ngồi đó dùng, còn vị nào muốn ra

ngoài thì sau khi thọ bát rồi đứng dậy ra đi. Đức Bổn Sư ngồi luôn nơi đó thọ thực.


Khi Ngài dùng xong bữa, các phụ nữ ấy bạch rằng:


- Bạch Ngài! Trưởng lão Mahākāḷa còn phải ở lại tụng kinh hồi hướng phước

báu, xin cung thỉnh Ngài hoan hỷ trở về trước với chư Tăng.


Đức Bổn Sư đáp: “Sādhu!”.


Rồi Ngài ra về trước, để Trưởng lão Mahākāḷa ở lại một mình. Về đến cổng

thành, chư Tăng mới lên tiếng than phiền rằng:


- Tại sao Đức Tôn Sư làm như vậy, không biết là Ngài cố ý hay vô tình? Hôm

qua cho Cullakāḷa về nhà trước đã làm hại cuộc đời tu hành của ông ta rồi. Hôm nay

phái một vị Tỳ khưu lạ đến trước, nên không có sự tai hại nào xảy ra, bây giờ Đức

Bổn sư lại bảo Mahākāḷa ở lại một mình và Ngài ngự ra về trước, tội nghiệp Tỳ khưu

Mahākāḷa giới đức chơn chánh, không biết có bị mấy bà vợ cũ làm hư phạm hạnh, kết

liễu cuộc đời tu sĩ hay không?


Nghe chư Tăng bàn tán, Đức Bổn Sư dừng bước quay lại hỏi:


- Nầy các Tỳ khưu! Các ông đang nói chuyện gì vậy?


Chư Tăng lặp lại lời vừa nói với Đức Bổn Sư. Ngài nói:


- Nầy các Tỳ khưu! Các ông cũng tính rằng Mahākāḷa cũng bị như Cullakāḷa hay

sao?


- Bạch Ngài! Đúng như vậy vì Cullakāḷa chỉ có hai vợ, còn Mahākāḷa có đến tám

vợ. Nếu tám bà nầy ráp nhau vây bắt, ông ta làm sao thoát khỏi, bạch Ngài.


Đức Bổn Sư dạy rằng:


- Nầy các Tỳ khưu! Các ông chớ nên nói như thế, Cullakāḷa đã quen sống đời

phóng túng, bằng thứ tư tưởng chạy theo dục lạc ngũ trần, như cây mềm yếu mọc dựa

bờ sông. Trái lại con của Như lai Mahākāḷa sống không ham dục lạc, hành thiền quán

bất tịnh như núi đá kiên cố không bị lay chuyển.


Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm hai bài kệ sau đây:


“Subhānupassiṃ viharantaṃ,

Indriyesu asaṃvutaṃ;

Bhojanamhi amattaññuṃ,

Kusītaṃ hīnavīriyaṃ;

Taṃ ve pasahati māro,

Vāto rukkhaṃ’va dubbalaṃ”.


“Asubhānupassiṃ viharantaṃ,

Indriyesu asaṃvutaṃ;

Bhojanamhi ca mattaññuṃ,

Saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;

Taṃ ve nappasahati māro,

Vāto selaṃ’va pabbatanti


Ai sống nhìn tịnh tướng,

Không hộ trì các căn,

Ăn uống thiếu tiết độ,

Biếng nhác, chẳng tinh cần.

Ma uy hiếp kẻ ấy,

Như cây yếu trước gió.


Ai sống quán bất tịnh,

Khéo hộ trì các căn,

Ăn uống có tiết độ,

Có lòng tin, tinh cần,

Ma không uy hiếp được,

Như núi đá, trước gió.






353 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Comentarios


bottom of page