top of page

Tích Truyện Kinh Pháp Cú 21,22,23 - HOÀNG HẬU SĀMĀVATĪ

Đã cập nhật: 2 ngày trước





21. “Appamādo amataṃ padaṃ, Pamādo maccuno padaṃ; Appamattā na mīyanti, Ye pamattā yathā matā”.

Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi.

22. “Etaṃ visesato ñatvā, Appamādamhi paṇḍitā; Appamāde pamodanti, Ariyānaṃ gocare ratā”.

Biết rõ sai biệt ấy,

Người trí không phóng dật,

Hoan hỷ, không phóng dật,

An vui hạnh bậc Thánh.

23. “Te jhāyino sātatikā, Niccaṃ daḷhaparakkamā; Phusanti dhīrā nibbānaṃ, Yogakkhemaṃ anuttaranti”.

Người hằng tu thiền định,

Thường kiên trì tinh tấn.

Bậc trí hưởng Niết Bàn,

Ách an tịnh vô thượng.


Những kệ ngôn Pháp Cú (21-22-23) nầy được Đức Thế Tôn đã thuyết pháp khi

Ngài an ngự tại Ghositārāma (Lôi Âm Tự), gần thành Kosambi, đề cập đến cái chết

của Hoàng hậu Sāmāvatī cùng năm trăm phi tần của cô và cái chết của Thứ hậu

Māgandiyā luôn cả năm trăm cung nữ, quyến thuộc của nàng.


Đầu đuôi câu chuyện như sau:


Trong thời quá khứ, nơi quốc lộ Allakappa (An Lạc Kiếp), có Allakappa Quốc

vương và nơi quốc độ Veṭṭhadīpaka (Bệ Tha Đảo), có Veṭṭhadīpaka Quốc vương. Hai

nhà vua là đôi bạn thâm giao. Hai người kết nghĩa kim bằng từ thời thơ ấu, đã từng

sống chung, học tập nghề văn nghiệp võ với một ông thầy. Khi phụ vương của mỗi vị

băng hà, ai về nước nấy để nối ngôi thiên tử, thống lãnh giang sơn tiểu quốc

(Dasadasayojanika raṭṭha). Tuy nhiên, hai vị tân vương thỉnh thoảng vẫn còn tương

hội, cùng sánh vai nhau đi đứng, nằm ngồi.


Một hôm luận đàm thế sự, nhìn thấy dân gian lớp mới sanh, lớp đã già, đều đi

lần đến cõi chết, hai bạn tri kỷ đồng than: “Hỡi ơi! Huỳnh tiền di lộ, bất đắc tương

tùy, hơi thở dứt đi thì thân nầy cũng bỏ, cơ đồ sự nghiệp, quyến thuộc gia đình…

chung quy cũng là ảo mộng mà thôi. Vậy ta hãy xuất gia tu hành cho rảnh”.


Phán rồi, hai nhà vua cả quyết phú thác sơn hà xã tắc lại cho thê nhi, cùng nhau

xuất gia đạo sĩ vào ẩn cư trong miền Tuyết Lãnh (Himavanta).


Ở chung nơi đây, hai bạn đạo bảo nhau rằng: “Chúng ta bỏ vương quyền đế vị là

hy cần đắc đạo, nhập thánh siêu phàm, chẳng lẽ không tự túc cánh sinh, nếu ta còn lưu

luyến chung cư thì có khác nào lúc xưa ta còn ở thế? Thôi ta nên ở riêng mỗi người

một phía, bạn ở núi kia tôi ở núi nầy, mỗi kỳ nữa tháng, đến ngày Phát lồ (sám hối) ta

sẽ hội họp một lần nữa mà thôi”.


Hai đạo sĩ lại đồng ý thêm rằng: “Như thế ta cũng còn mong mỏi đến ngày tương

hội, tốt hơn hết là đến ngày ấy, bạn nổi lửa bên núi bạn, tôi nổi lửa bên núi tôi. Bằng

cách ấy, ta thông tin nhau biết là mình còn sống”.


Thế rồi, hai đạo sĩ chia tay, giữ đúng lời giao ước. Một thời gian sau, đạo sĩ

Veṭṭhadīpaka chết, thọ sanh làm một vị Thiên vương có nhiều thần lực.


Đến kỳ Phát lồ nữa tháng, không thấy khói lửa phía núi bên kia vị đạo sĩ còn

sống biết rằng: “Bạn ta đã mãn phần”.


Còn vị thiên, sau khi hóa sanh, ngẫm xem thân hình đổi mới, cao sang lộng lẫy,

bèn tìm hiểu duyên nghiệp đã làm cho được quả phước hiện tại, thì được biết rằng: Do

nhờ ta xuất gia tu hành. Rồi vị ấy tính thầm: “Ta hãy xuống thăm bạn ta coi nào?”.


Liền đó, xóa bỏ hình dáng chư thiên vị ấy biến thành một khách lữ hành, đến

đảnh lễ vị đạo sĩ và đứng qua một bên.


Thấy người lạ, đạo sĩ hỏi:


- Đạo hữu ở đâu lại đây?


- Bạch Ngài! Tôi là khách lữ hành ở tận một phương xa, bạch Ngài cho phép tôi

hỏi thăm: Nơi đây có ai khác nữa ở chung với Ngài không?


- Có, ta có một người bạn.


- Ngài ấy ở đâu?


- Vị ấy ở núi bên kia, hôm nay đến kỳ Phát lồ mà sao không thấy nổi lửa, có lẽ vị

ấy chết rồi chăng?


- Bạch Ngài, đúng vậy.


- Đạo hữu biết chắc ư?


- Bạch Ngài vị ấy chính là tôi đây.


- Đạo hữu sanh về cảnh giới nào?


- Tôi sanh lên cõi trời, làm vị Thiên vương có nhiều thần lực, nay vì muốn thăm

bạn cũ, nên trở xuống đây. Bạch Ngài! Nơi đây Ngài có gặp điều chi trở ngại, khó

khăn phiền phức không?


- Thưa đạo hữu, có. Tôi bị mấy con voi thường đến quấy phá.


- Bạch Ngài, chẳng hay mấy con voi ấy quấy nhiễu Ngài bằng cách nào?


- Đàn voi đến phóng uế trên sân, chỗ tôi đã quét sạch sẽ và dậm chân quần thảo

làm cho bụi bay lên tứ tung, tôi phải mất công hốt phân voi và đổ đất lấp các lỗ chân

voi.


- Chắc Ngài muốn đàn voi đừng trở lại nữa?


- Phải đó, đạo hữu.



- Vậy thì để tôi chỉ Ngài cách nầy làm cho bọn chúng sẽ từ biệt nơi đây.

Nói rồi, Thiên vương tặng cho đạo sĩ cây đàn thần ba dây và dạy cho đạo sĩ niệm

chú để sai khiến loài voi. Lần lượt chỉ vào ba dây đàn, Thiên vương giảng:


- Khi nào Ngài khảy dây đàn nầy và niệm chú nầy thì đàn voi chạy thẳng một

mạch, không thể quay đầu nhìn lại phía sau. Còn khi nào Ngài khảy dây đàn nầy và

niệm câu chú nầy, thì đàn voi “phản tiền vi hậu”, quay đầu lại vừa chạy vừa nhìn về

phía Ngài. Còn nếu Ngài khảy dây đàn nầy và niệm câu thần chú này thì con Tượng

chúa lập tức chạy đến đưa lưng cho Ngài cởi.


Đoạn Thiên vương đảnh lễ đạo sĩ và cáo từ lui gót.


Nhờ phép niệm chú và khảy đờn rất linh nghiệm, khiến cho đàn voi chạy lảng xa

hết, đạo sĩ từ đó mới được nhận sự nhàn lạc tịnh cư nơi miền sơn dã.


Đồng thời với đạo sĩ, có đức vua ngự, hiệu là Parantapa (Phổ Chiếu), đóng đô tại

thành Kosambi.


Một hôm nhân buổi chiều hè nóng bức, quốc vương cùng Chánh hậu đang hoài

thai ra khỏi hoàng cung, ngự tọa trên sân thượng lộ thiên của tòa biệt điện.


Hoàng hậu được đức vua khoác trên mình chiếc long bào triều phục bằng gấm

đỏ trị giá bằng mười vạn đồng vàng, trong khi ấu yếm chuyện trò, đức vua lại cởi

chiếc nhẫn ngọc ấn trị giá cũng mười vạn đồng vàng nơi tay Ngài mà lồng qua ngón

tay của Hoàng hậu.


Tình cờ khi ấy, trên không có con chim đại bàng (hatthiliṅgasakuṇa) từ xa bay

đến, trông thấy Hoàng hậu mặc chiếc hồng bào, nó tưởng là đống thịt đỏ tươi, nên xếp

đôi cánh lại lao mình xuống nhanh như cắt, phát ra tiếng gió ào ào nghe đến lạnh

mình. Đức vua kinh hãi đứng dậy, chạy ngay xuống lầu. Hoàng hậu cũng hốt hoảng

hoang mang, nhưng vì đang lúc hoài thai nên không thể lanh chân tẩu thoát kịp. Vì thế

đại bàng điểu xớt được Hoàng hậu, kẹp cứng trong móng vuốt của nó, rồi vỗ cánh bay

lên.


Theo lời xưa kể lại, giống đại bàng nầy là một giống kên kên (Thốc thứu) có mỏ

dài như vòi voi, có sức mạnh tha mồi bằng năm con tượng, cho nên khi sớt mồi rồi là

nó bay đi, tùy thích đáp xuống mà ăn thịt. Đang lúc bị chim đại bàng tha bay lên

không, Hoàng hậu phập phồng sợ chết, tự nghĩ thầm rằng: “Giống thú hay sợ tiếng

người, nếu ta kêu la, nó nghe tiếng ta, ắt là buông bỏ ta rơi xuống đất, như thế ta cùng

thai nhi cũng đều vong mạng. Chi bằng chờ khi nó đậu chỗ nào, sắp sửa ăn thịt ta,

chừng ấy ta sẽ cất tiếng la to để xua đuổi nó”.



Nhờ thông minh tinh trí, nghĩ ra diệu kế, Hoàng hậu nhẫn nại làm thinh.


Nơi miền Tuyết Sơn, có một cây đa rất to lớn, mọc lên đã lâu đời, thân cây sừng

sững giữa trời, tàn nhánh tròn xoe, sum suê mát mẻ, chim đại bàng vẫn thường sớt tha

thú rừng đem về gác trên cây đa cổ thụ mà ăn. Cho nên hôm ấy nó cũng tha Hoàng

hậu Parantapa về đậu trên cháng hai ấy và đưa mắt quan sát con đường về. Theo tục

truyền giống chim nầy có thói quen là luôn luôn quan sát con đường về như thế.


Ngay khi ấy, Hoàng hậu tính rằng: “Bây giờ là lúc ta phải xua đuổi nó đây”.


Duỗi hai cánh tay ra, Hoàng hậu vừa vỗ tay vừa la lớn tiếng, đuổi được con chim

đại bàng bay mất.


Chiều tàn, bóng ô vừa khuất, Hoàng hậu bỗng nghe thai nhi chuyển động. Bầu

trời lúc bấy giờ lại vần vũ mây đen, tứ bề chớp giăng sấm nổ.


Thảm thay cho một trang quốc mẫu, lá ngọc cành vàng.


“Rừng khuya tân khổ cơ hàn

Ai người bầu bạn trấn an cho mình”.


Đến khi đêm tàn mưa tạnh vừa hồng lố dạng trời đông, Hoàng hậu xổ lòng sanh

được một hoàng nam. Để kỷ niệm bầu trời quang đãng với mặt nhật đang lên, báo

hiệu một ngày tươi sáng. Hoàng hậu Parantapa đặt tên con là Udena (Cao Thắng).

Chỗ Hoàng hậu thọ nạn, cách chỗ ngụ của đạo sĩ Allakappa không bao xa.


Thói thường trong những ngày mưa, đạo sĩ sợ cảm hàn không dám vào rừng hái

trái cây, đạo sĩ chỉ đi đến dưới gốc cây đa cổ thụ, chờ đại bàng điểu ăn xong thì hốt

mót xương thừa, thịt vụn, đem về giã nát ra, cho thêm gia vị nấu thành nước canh mà

húp.


Sáng hôm ấy, đạo sĩ cũng tính thầm: “Ta đi lượm mót xương”, đến gốc cây đa,

đạo sĩ còn đang nhặt xương gom lại, bỗng nghe tiếng khóc của trẻ thơ ở phía trên cây.


Đạo sĩ ngước mắt nhìn lên, thấy Hoàng hậu ẵm con, bèn hỏi rằng:


- Nàng là giống chi?


- Thưa thiếp bị đại bàng điểu xớt tha về đây.


- Nàng muốn xuống đất không?


- Thưa muốn! Nhưng thiếp e giữa thiếp với người có chỗ cách biệt về dòng dõi

không?


- Nàng thuộc về giai cấp nào?


- Thưa thiếp thuộc dòng Sát Đế Lỵ (Khattiya).


- Bần đạo cũng dòng Sát Đế Lỵ.


- Thế thì xin Ngài hãy kể những kiến thức đặc biệt của dòng Sát Đế Lỵ thử coi.

Nghe đạo sĩ kể đúng rồi, Hoàng hậu hết nghi nan, bèn yêu cầu: “Xin Ngài trèo

lên ẵm ấu tử giùm cho tiện thiếp”.


Đạo sĩ lập cách mở một lối lên đến cháng cây đa, đoạn trèo lên để bồng ấu tử và

dặn rằng: “Nàng khá thủ lễ, chớ đụng tay vào mình bần đạo không nên”.


Hoàng hậu y lời, khi trao hài nhi qua cho đạo sĩ ẵm xuống giữ gìn không cho

đụng chạm, rồi Hoàng hậu cũng xuống theo luôn.


Đạo sĩ bồng ấu tử trở về tới thảo am, ra tay tế độ nuôi nấng nhưng dè dặt chẳng

cho đứt giới người tu, đạo sĩ vào rừng kiếm mật ong nguyên chất và nước trái thốt nốt,

đem về nấu cháo lỏng cho ấu tử bú.


Thấy đạo sĩ chăm non dưỡng dục con mình mà còn gìn giữ tư cách, Hoàng hậu

buồn thân tủi phận nói thầm rằng: “Như ta nay đường đi chẳng biết, nẻo về cũng

không hay, ở lại thì đạo sĩ đối với nữ nhân bơ phờ lạnh nhạt, không chút cảm tình.

Nếu rủi bị ông ấy bỏ rơi thì mẹ con ta biết sẽ lưu lạc về đâu? Chắc chắn cả hai đều

phải chết, ta phải làm sao cho đạo sĩ phá bỏ giới hạnh, chớ đừng bỏ rơi hai mẹ con ta”.


Nghĩ vậy, Hoàng hậu bắt đầu ăn vận rách rưới lang thang, dùng chất liễu bồ

nhược chất mà lung lạc tâm kẻ tu hành. Đạo sĩ rốt cuộc phải xiêu lòng. Từ đó nam nữ

sống chung thuận hòa hợp êm ấm.


Tháng ngày qua… Một hôm đạo sĩ nhìn xem thiên tượng, thấy khí số của vua

Parantapa đã hết, bèn kêu vợ bảo rằng:


- Nầy hiền nội, đức vua Parantapa trong thành Kosambi đã băng hà rồi.


- Sao phu quân nói vậy, đức vua với phu quân có thù nghịch chi chăng?


- Không đâu! Nầy hiền nội, ta nhìn xem thiên tượng thấy sao ứng ra điều ấy, nên

nói như thế.


Hoàng hậu sụt sùi đổ lệ.


Đạo sĩ hỏi:


- Sao nàng lại khóc.


Khi được biết vua Parantapa là chồng cũ của vợ mình, đạo sĩ an ủi: “Thôi hiền

nội đừng nên bị lụy, ở đời hễ có sanh là có tử, đó là lẽ đương nhiên”.


- Thưa phu quân, thiếp cũng biết như vậy.


- Thế sao nàng lại khóc?


- Vì con trai của thiếp là đông cung Thái tử, có quyền kế vị ngai vàng, đáng lẽ

hưởng được phú quý vinh hoa tột bực thế mà Thái tử bây giờ phải chịu làm kẻ thường

dân, cho nên thiếp tủi buồn cho thân con mà lưu lệ đó phu quân!


- Hiền nội cứ an tâm, đừng lo rầu nữa, nếu Thái tử muốn hồi trào để thừa hưởng

được phú quý vinh hoa tột bực thì ta có cách giúp cho Thái tử thành toàn ý nguyện

chẳng sai.


Hoàng hậu mừng rỡ đáp: “Thưa phu quân, nếu được vậy thì còn chi quý bằng”.


- Được rồi, hiền nội.


Tiếp theo lời hứa, đạo sĩ lấy cây đàn thần ba dây ra trao cho Thái tử và truyền

dạy ba câu mật chú điều khiển loài voi.


Hồi ấy vẫn có vô số tượng rừng ra vào gần đấy, tập trung quanh các gốc cây to

kể hơn trăm ngàn thớt. Đạo sĩ liền dặn Thái tử rằng: “Lúc đàn voi chưa đến, con phải

trèo lên ngồi trước trên cây cao. Hễ thấy chúng nó đến thì con niệm câu chú nầy và

khảy dây đàn nầy, tất nhiên cả đàn voi sẽ quay đầu lại chạy thẳng một mạch không

dám liếc nhìn lại phía sau. Chờ cả đàn voi qua hết, con hãy tuột xuống mà về”.


Thái tử vâng lời dưỡng phụ, một mình vào rừng thí nghiệm phép linh, xong rồi

trở về thảo am thuật lại chuyện.


Qua ngày thứ hai, đạo sĩ lại dạy thêm Thái tử:


“Bữa nay con niệm câu chú nầy và khảy sợi dây đàn nầy, đàn voi sẽ phản tiền vi

hậu vừa chạy vừa nhìn về phía con”.


Thái tử cũng vâng lời ra đi, thí nghiệm xong liền trở về phục lịnh dưỡng phụ.


Khi ấy, đạo sĩ gọi Hoàng hậu và bảo: “Nầy hiền nội, nàng có cần nhắn tin chi, thì

hãy nói với con đi! Thái tử trở về phen nầy ắt sẽ lên ngôi cửu ngũ”.


Hoàng hậu gọi Thái tử vào ngỏ lời tâm sự rằng: “Nầy vương nhi, con chính là

đông cung Thái tử, con vua Parantapa xứ Kosambi, lúc mẹ mang con trong lòng thì bị

đại bàng điểu xớt đi...”.


Thuật hết lai lịch tông tích của mình rồi, Hoàng hậu lại kể đích danh các đại thần

trong triều, nhất là tên quan Nguyên soái cho Thái tử biết và tiếp rằng: “Đến lúc cần,

con hãy trưng ra chiếc Hồng Cẩm bào và chiếc Vương chỉ hoàn nầy vốn là triều phục

và ngọc ấn của phụ vương con để làm tin”.


Dặn dò xong, Hoàng hậu tiễn biệt Thái tử. Thái tử quay lại hỏi đạo sĩ rằng:


- Thưa dưỡng phụ! Bây giờ con phải làm gì?


- Con hãy trèo lên cây, ngồi trên một nhánh thấp rồi con niệm câu chú nầy và

khảy sợi dây nầy, tức thì Tượng chúa đến đưa lưng cho con cưỡi, con tuột xuống ngồi

lên lưng Tượng trở về cố quốc kế vị ngai vàng của phụ vương con.


Thái tử sụp xuống bái biệt song thân, rồi theo lời dạy của dưỡng phụ, gọi con

Tượng chúa đến cỡi lên lưng nó và kê miệng gần tai nó, xuống lịnh phán rằng: “Ta là

Thái tử Udena, con vua Parantapa xứ Kosambi, xin Tượng chúa hãy đưa ta về triều

phục quốc, để kế vị ngai vàng!”.


Nghe vậy, Tượng chúa rống to lên, dùng ngôn ngữ của loài voi kêu gọi hợp đàn:

“Vô số ngàn thớt tượng hãy tập trung tất cả nơi đây”.


Quả nhiên, có vô số ngàn thớt tượng vâng lịnh chúa đàn quy tụ rất đông.


Với lực lượng hùng hậu vô số ngàn voi chiến Thái tử lên đường trở lại cố đô,

đến biên ải, Thái tử kêu gọi dân chúng: “Ta là đông cung Thái tử trở về trào phục

quốc, thần dân khá mau hộ giá mà lập công danh”.



Từ đó trở đi dân chúng gia nhập càng ngày càng đông, Thái tử kết tập cả đoàn

dân quân cùng với tượng binh kéo dốc toàn lực về vây thành Kosambi và phái sứ giả

vào triều trao tối hậu thư, kết thúc bằng hai điều vắn tắt: “Muốn chiến tranh hay là

quy hoàn vương vị cho ta”.


Trào thần đáp lại sứ giả rằng: “Cả hai câu hỏi của quý Ngài chúng tôi không thể

trả lời dứt khoát. Quả thật, Hoàng hậu hoài thai có bị đại bàng điểu xớt tha đi, nhưng

từ đó đến nay biệt tích vắng tăm, còn mất thế nào chưa rõ, bao giờ chúng tôi nghe

đích xác tin tức Hoàng hậu rồi, chúng tôi mới có thể biểu quyết chiến tranh hay hoàn

vương vị lại cho chúa của quý Ngài”.


Sứ giả về tâu lại với Thái tử những lời thương nghị của trào thần, Thái tử bèn

thân hành đến tận cổng thành, bắt loa phán rằng: “Ta là đông cung Thái tử Udena, con

của Hoàng hậu mất tích đây”. Rồi Thái tử gọi đích danh các quan đại thần, nhất là tên

vị Nguyên nhung. Thấy họ còn hoài nghi, Thái tử bèn trưng ra hai tín vật, bá quan

nhận thấy chiếc Hồng cẩm bào và chiếc ngọc ấn chỉ hoàng là tín hiệu của quốc vương

Parantapa, bèn mở rộng cửa ngọ môn nghinh tiếp Thái tử với ba quân tướng sĩ vào

thành và chọn ngày làm lễ đăng quang để tôn Thái tử lên ngôi cửu ngũ.


(Trên đây là sự tích đản sanh của Thái tử Udena).


Nơi quốc độ Allakappa, trong một năm mất mùa, nạn đói hoành hành rất khốc

liệt, có một anh chàng nọ tên là Kotuhaliko (Háo Kỳ) nghèo xác nghèo xơ, không

nuôi sống nỗi gia đình là một vợ, một con thơ chưa rời vú mẹ. Chàng bảo vợ: “Chúng

mình hãy đi Kosambi để tìm lối sống!”.


Nói rồi, anh ta góp nhóp được chút ít lương khô để dành ăn theo đường, dắt vợ

ẵm con bỏ nhà ra đi.


Anh Kotuhaliko chạy tị nạn đói, nhưng cũng có người cho rằng anh ta chạy tránh

bịnh thiên thời dịch khí, làm cho nhân dân chết lây liều yếu vậy.


Hai vợ chồng đi được một quãng đường thì vật thực hết sạch vừa đói vừa lả vì

kiệt sức và còn phải đèo theo đứa con thơ, Kotuhaliko chán nản, than thở với vợ rằng:


- Mình ơi! Chúng ta còn sống thì còn sanh con, ta hãy bỏ đứa nầy lại nơi đây mà

đi cho đỡ khổ nghe mình.


Động lòng từ mẫn, Kālī (Thị Thời) phản đối chồng rằng:


- Con còn sống, em không đành bỏ nó đâu?


- Vậy thì ta phải làm sao?


- Thì ta thay phiên nhau mà ẵm nó chứ sao?


Người mẹ lãnh phiên đầu, đeo đứa bé như một vòng hoa, đặt nó nằm yên trên

ngực mình, một lúc sau thiếu phụ trao con cho chồng. Kotuhaliko ẵm con đi, dừng lại

từng hồi từng chập chỗ nọ, chỗ kia. Mỗi khi bụng đói cồn cào, khổ đau quá sức. Thỉnh

thoảng anh ta nhắc đi nhắc lại với vợ rằng: “Mình ơi! Ta còn sống thì còn sanh con, ta

hãy bỏ đứa nầy đi cho rảnh”.


Kālī hễ nghe chồng mở miệng nói, là phản đối liền, nhất định không chịu lìa con.

Đứa bé được hai người thay phiên nhau ẵm bồng. Một lúc sau mòn mỏi ngủ thiếp trên

tay cha nó.


Kotuhaliko thấy con ngủ, bèn giục vợ đi trước, một mình ở lại sau, anh kiếm lá

lót trải dưới một bụi cây, se sẽ đặt con nằm xuống rồi bỏ đi.


Kālī quay lại kiếm chồng, không thấy con bèn hỏi:


- Con đâu, mình?


- Anh để nó nằm dưới bụi cây kia kìa.


Kālī đấm ngực khóc than kể lể: “Mình ơi! Mình làm khổ cho em, không có con

chắc em không sống được, mình đem con giao trả lại cho em”.


Kotuhaliko phải miễn cưỡng trở lại ẵm con theo, nhưng đến nữa đường đứa trẻ

cũng chết.


(Do nhân dứt bỏ con thơ nhiều chỗ trong kiếp ấy mà Kotuhaliko phải trả quả, bị

đem dứt bỏ bảy lần trong một kiếp sau. Thấy đó, ta không nên khinh thường những tội

lỗi nhỏ nhen mà cho rằng sẽ không trả quả).


Vợ chồng Kotuhaliko khi được rảnh tay lại tiếp tục lộ trình gian khổ và sau cùng

đi đến nông trại của một chủ nuôi bò.


Hôm ấy, nhằm ngày trong trại tổ chức lễ mừng cho con bò cái giống

(dhenumaṅgala) của chủ trại mới đẻ con so. Thường nhật có một Phật Độc Giác hằng

đến thọ thực trong trại chủ bò. Chủ trại để bát cúng dường Đức Phật Độc Giác trước,

rồi mới cử hành cuộc lễ, bữa ăn thịnh soạn cơm trắng chưng dọn ê hề.


Chủ trại nhìn thấy vợ chồng Kotuhaliko mới đến, bèn hỏi rằng: “Hai em ở đâu

lại đây?”.


Sau khi nghe tường thuật những nỗi đoạn trường của kẻ tị nạn đói, ông bèn khiến

gia đình đem đến cho họ khá nhiều cơm trắng với sanh tô (sappi).


Kālī nói: “Mình ơi! Hễ mình sống là em sống vậy mình hãy ráng ăn cho no nê đi

đặng bù lại khi trước mình đã chịu đói lâu ngày”

.

Nói rồi, người vợ đem gần hết phần cơm trắng, sanh tô của mình sớt qua bát của

chồng, chỉ chừa lại ăn chút ít thôi. Anh Kotuhaliko vì bị đói trong bảy ngày liền, bây

giờ gặp được mỹ vị cao lương, ăn nhiều bao nhiêu cũng chưa đã thèm.


Sau khi sai người bố thí cơm trắng cho hai nạn nhân, chủ trại bò ngồi vào bàn ăn

để dùng bữa.


Anh Kotuhaliko ngồi nhìn chủ trại, thấy ông ấy ném vắt cơm sữa xuống cho con

chó cái đang nằm dưới gầm bàn thì phát sanh ý nghĩ như vầy: “Con chó cái nầy quả

thật có phước mới được chủ cho ăn ngon lành như thế hằng ngày”.


Đêm ấy, anh Kotuhaliko bị trúng thực, phát ách, đau bụng mà chết, tâm thức

nhập vào thai bào của con chó cái nói trên.


Kālī lo an táng chồng rồi, còn nán ở lại làm công việc trong nhà chủ trại bò.

Lãnh được một gáo gạo, chị bèn nấu cơm để bát cúng dường Đức Phật Độc Giác và

phát nguyện rằng: “Xin cho phước nầy thấu đến chồng con”, nguyện rồi chị tự nghĩ:

“Ta nên ở lại đây phục dịch vì Ngài Đại đức mỗi ngày đều đến đây thọ bát. Dầu ta có

cúng dường hay không, mỗi ngày ta cũng được dịp lễ bái phục dịch Ngài. Như vậy,

chắc chắn ta sẽ tạo được nhiều phước báu cho đời vị lai”. Thế là từ đó chị Kālī ở luôn

làm công cho chủ trại.


Độ vài tháng sau, con chó cái đẻ, trong bầy con, nó chỉ có một con đực, chủ trại

bò cưng con chó con nầy lắm, nên lấy sữa của một con bò cái cho nó bú, không bao

lâu nó lớn, mỗi ngày trong khi thọ thực, Đức Phật Độc Giác đều cho nó một vắt cơm,

vì được cho ăn quen lệ, con chó nầy cảm mến Đức Phật Độc Giác.


Thường thường chủ trại bò đến hộ Đức Phật Độc Giác ngày hai lần. Đi đường

đến chỗ có thú dữ , ông ta lấy gậy đập lên bụi cây, hay đập xuống đất, miệng la: “Hiu,

hiu, hiu” ba tiếng làm cho thú dữ hoảng sợ bỏ chạy, mỗi lần ông đi, con chó chạy theo

ông.


Một hôm, chủ trại bò ngỏ lời yêu cần Đức Phật Độc Giác rằng:


- Bạch Ngài! Khi nào con không được rảnh thì con sẽ cho con chó nầy đến thỉnh

Ngài, xin Ngài hoan hỷ chấp nhận lời yêu cầu của con.


Từ đó về sau, mỗi khi bận việc, chủ trại bò sai con chó:


- Nầy con, con hãy đi thỉnh Ngài Đại đức.


Chỉ nghe chủ nói qua một lần là con chó lập tức đi. Tới chỗ mà chủ nó hay đập

gậy lên bụi cây hay đập xuống đất, nó đứng lại sủa ba tiếng, khi chắc ý là thú dữ nghe

tiếng nó sủa bỏ chạy xa rồi, nó mới sửa bộ tịch cho chỉnh tề, đi đến thảo am, chỗ Đức

Phật Độc Giác đang ngự, thấy Ngài ngồi trong am nó đứng ngay trước cửa sủa ba

tiếng ra hiệu cho biết là có nó đến, đoạn nó vào nằm bên Ngài. Đoán biết Đức Phật

Độc Giác sắp ra đi, nó vừa sủa vừa chạy trước dẫn đường.


Để thử trí khôn của con chó, Đức Phật Độc Giác thường rẽ qua lối này lối nọ,

thấy vậy, nó chạy vọt tới trước, đứng cản đường và sủa lên để kêu Ngài trở lại con

đường kia, một hôm Đức Phật Độc Giác cũng rẽ qua lối khác như thường lệ, con chó

cũng chạy tới trước đón đường, nó ráng sức sủa, nhưng Ngài không đổi hướng, lại

nắm chân nó vẹt qua để đi tới, khi thấy Ngài đi luôn, con chó chạy theo níu chéo y của

Ngài lôi ngược lại, để chỉ cho Ngài biết con đường nên đi. Sự gần gũi thân mật như

thế khiến cho mối tình quyến luyến của con chó đối với Đức Phật Độc Giác càng ngày

càng gia tăng.


Một thời gian sau, khi thấy y của Đức Phật Độc Giác cũ quá, ông chủ trại bò xin

dâng Ngài vải may y. Khi ấy, Đức Phật Độc Giác bảo rằng: “Nầy đạo hữu, việc cắt

may y rất khó mà làm một mình, vậy để ta đem vải đến chỗ có người tiếp tay phụ may

cho dễ”.


- Bạch Ngài, xin thỉnh Ngài hoan hỷ ở đây may y.


- Không thể được đâu đạo hữu!


- Bạch Ngài, nếu vậy xin Ngài đừng đi ở đó quá lâu.


Khi chủ trại bò hầu chuyện cùng Đức Phật Độc Giác con chó ở một bên để ý

lắng nghe.



Đức Phật từ giã thí chủ rồi, liền bay bổng lên hư không đoạn Ngài trực chỉ bay

luôn về núi Gandhamādana (Hương Đản).


Thấy Đức Phật Độc Giác bay đi, con chó đứng dưới đất nhìn theo mà sủa mãi,

cho đến khi hình bóng của Ngài mờ dần và tan biến trong hư không thì tim nó vỡ tan

ra. Ôi, súc vật cũng có nhiều con trung nghĩa trung thành, trái với tiếng lòng muôn dạ

thú, còn loài người cũng lắm kẻ mật miệng gươm lòng, hiệp với câu: “Giáp mặt lời ra,

lòng xa ngàn núi (đối diện dữ, nhữ tâm cách thiên san).


Do nhờ tánh trung nghĩa chân thật, sau khi chết, con chó được thọ sanh lên cung

trời Đao Lợi, có một ngàn ngọc nữ theo hầu hưởng được phước lộc của một Thiên

vương, đức vua trời này có giọng nói rất to. Dầu khi kề tai nói nhỏ, tiếng Ngài cũng

vang rền xa mười sáu do tuần. Do đó, Thiên vương được mệnh danh là Lôi Âm thiên

tử (Ghositadevaputta).


Nhờ gieo nhân nào mà Ngài được phước ấy, nhờ trong kiếp chó Ngài đã sủa Đức

Phật Độc Giác bằng cả tấm lòng trìu mến vậy.


Lôi Âm thiên tử không được trường thọ để hưởng lộc trời. (Trên Thiên giới, chư

thiên mạng chung vì hết tuổi thọ, hoặc vì hết phước, vì quên thọ thực hay vì quá sân

hận). Vị nào do tạo nhiều phước nghiệp, thọ sanh lên cõi trời nào, sống mãi tùy theo

số tuổi thọ của chư thiên cõi ấy, chết rồi sanh đi sanh lại cũng chưa hết phước, như

vậy gọi là mạng chung vì hết tuổi thọ. Vị nào tạo chút ít phước thọ sanh lên cõi trời

nào, khi hưởng hết phước để dành thì phải chết ví như người gởi vào công khố độ

bốn, năm lon lúa, lấy ra hết rồi thôi, như thế mạng chung vì hết phước. Còn vị nào

đang mê say thọ hưởng ngũ trần, mãi ham vui mà quên lãng việc thọ thực vị ấy cũng

phải chết vì xác thân không được dinh dưỡng, như thế gọi là mạng chung vì quên thọ

thực. Và vị nào thấy vị khác có nhiều oai lực phước báu hơn mình mà phát sanh lòng

ganh tị, hễ cơn giận nổi lên thì cũng chết, như vậy gọi là mạng chung vì sân hận.


Ghositadevaputta mãi vui say với ngũ trần dục lạc mà quên thọ thực nên phải

mạng chung, đầu thai vào lòng một cô gái lầu xanh ở trong thành Kosambi. Vừa sanh

con, cô kỹ nữ (sobhinī) đã hỏi đứa tỳ nữ: “Trai hay gái?”.


- Dạ thưa cô, trai!


Không cần thấy mặt anh nhi, sản phụ vội bảo:


- Vậy mầy hãy bỏ thằng nầy vào một cái giỏ xách bằng mây, rồi đem liệng nó ra

trên đống rác.


Đứa nữ tỳ vâng lịnh chủ, đem vứt đứa bé vô thừa nhận. (Các cô ả làng chơi ở đô

thành chỉ nuôi ròng coi gái, chớ không dùng con trai vì con gái mới nối được nghiệp

nhà).


Nằm trơ trên đống rác, hòn máu bỏ rơi bị chó và quạ xúm lại bao vây, nhưng

chẳng con nào dám xáp lại gần do nhờ phước báu đã sủa Đức Phật Độc Giác với tâm

trìu mến trong kiếp làm chó của nó.


Thời may, trong giây phút ấy có người đàn ông đi ra đồng, thấy quạ và chó chùm

chum một chỗ, nên để ý tự hỏi:


- Đằng đó có cái gì vậy?


Rảo bước đến nơi, người đàn ông thấy đứa hài nhi thì sanh lòng thương như con

đẻ, bèn bế xốc nó lên và tri hô rằng:


- Ta xí được đứa con trai, đoạn người ấy bồng nó đem về nhà.


Ngày sanh đứa trẻ không cha là ngày ông Thiên hộ thành Kosambi vào triều bái

kiến đức vua. Lúc vào hoàng thành ông gặp quan Khâm thiên giám từ trong cung nội

đi ra, bèn nghiêng mình thi lễ và hỏi rằng:


- Kính thưa Quốc sư, chẳng hay Ngài đã xem thiên văn để tiên đoán quốc sự

ngày bữa nay hay chưa?


- Thưa phú Trưởng giả, đó là bổn phận hằng ngày của bổn chức.


- Vậy thưa Ngài, trong nước có chuyện chi lạ xảy ra không?


- Chẳng có chi khác, ngoài việc đứa bé sanh ra trong đô thành ngày hôm nay, sau

nầy sẽ là đệ nhất phú Trưởng giả.


Lúc ấy bà Thiên hộ cũng có thai gần ngày sanh, cho nên ông Thiên hộ hối hả sai

tên gia đinh theo hầu:


- Nầy con! Con về xem coi bà đã lâm bồn chưa nghe!


Tùng giả vâng lời chạy ngay về nhà, hỏi: “Bà Thiên Hộ đã lâm bồn chưa?”.


Nghe người nhà đáp: “Bà chưa sanh”, tùng giả bèn chạy trở vô thành, lập y lại

với chủ “Bà chưa sanh”.


Khi hay tin vợ chưa sanh, phú ông vào triều thỉnh an đức vua xong vội vã trở về

nhà, cho đòi con tỷ tất Kālī (Hắc Nô) đến, giao cho nó một ngàn đồng vàng và dặn

bảo: “Con hãy đi rảo khắp trong thành dò xét, nếu gặp đứa bé nào mới sanh ra nội

ngày bữa nay thì con xuất hết một ngàn đồng vàng mua nó đem về cho ông”.


Nàng kālī (Hắc Nô) đi hỏi thăm lần hồi, nhờ người điềm chỉ đến ngay nhà người

đàn ông xí được đứa bé, liền hỏi vợ chủ nhà:


- Thằng nhỏ này thím sanh được bao lâu rồi?


- Dạ mới sanh bữa nay.


- Cho tôi xin nó đi.


Rồi cô kỳ kèo trả giá, từ một đồng lên tới một ngàn đồng vàng mới mua được

đứa con rơi đem về cho ông Thiên hộ.


Phú ông bề ngoài làm ra vẻ yêu mến đứa con nuôi, cho cất nhà riêng để nó ở,

nhưng trong thâm tâm ông dự tính rằng: “Nếu vợ ta sanh con gái thì ta sẽ gả cho thằng

nầy và truyền chức Thiên hộ cho rể, nhược bằng vợ ta sanh con trai thì ta sẽ thủ tiêu

nó ngay”.


Cách vài ngày sau, phú bà xổ lòng, sanh được một trai. Phú ông nghĩ rằng: “Bây

giờ ta phải tìm cách hạ sát đứa con hoang thì đứa con ruột của ta sẽ giữ chức đệ nhất

phú gia trong thành Kosambi nầy”.


Ông Thiên hộ gọi con tỷ tất Kālī và dặn riêng nó rằng: “Con đem thằng bé ngoại

tộc nầy đến cửa chuồng bò, chờ khi người ta sắp thả bò ra, thì con bỏ nó nằm ngay

giữa lối đi, cho bò cái dặm nhẹp xác nó! Con chờ coi, thấy nó bị đạp chết rồi, hãy về

cho ông biết tin”.


Nữ tỳ Kālī ẵm đứa bé đi, chờ một lúc thấy mục đồng mở cửa chuồng bò, bèn đặt

nó nằm ngang cửa lối đi của bò. Mọi bữa khác thì con bò đực đầu đàn đi ra sau chót

hết, nhưng hôm nay nó lại ra trước nhất, đến ngay chỗ đứa bé nằm nó đứng dang bốn

chân ra, che chở tứ phía.


Bầy bò cái không biết mấy trăm con, chạy túa ra làm hai hàng, chạm vào hai bên

hông con bò mộng, người chăn bò thấy chuyện lạ, nói thầm rằng: “Con bò mộng nầy

lúc nào cũng đi ra sau cùng, sao hôm nay lại phát chứng chạy ra trước nhất, đứng chận

ngay cửa chuồng vậy cà? Không biết có cái gì ở đó?”.


Khi đến gần, trông thấy đứa bé tí hon đang nằm dưới con bò mộng, người chăn

bò sanh lòng thương như con ruột của mình, bèn hô hớn lên: “Ta xí được đứa con

trai” rồi ẵm luôn nó vô nhà.


Kālī về phục dịch chủ, đem hết mọi sự trình lại cho ông Thiên hộ nghe. Phú ông

lại giao cho nó một ngàn đồng vàng và dặn: “Bây giờ con đem số tiền nầy đi, ráng

chuộc thằng bé về cho ông”.


Tỷ tất Kālī thực hành lịnh chủ, xuất hết một ngàn đồng vàng chuộc được đứa bé

mang về cho ông Thiên hộ. Khi ấy, phú ông lại nhỏ to sở cậy đứa tớ gái tâm phúc

rằng: “Nầy Kālī con, hôm nay trong đô thành có năm trăm cỗ xe bò sắp khởi hành

một chuyến buôn xa, sẽ đi tờ mờ sáng vậy con hãy mang thằng bé nầy đem bỏ giữa

đường lộ cho bò đạp, cho xe cán nó nát thây, đứt đầu chết đi cho rảnh, con chờ xem

thấy nó chết thật rồi, hãy về cho ông hay”.


Con nữ tỳ lại mang đứa bé đi bỏ nằm ngang giữa lộ. Lúc khởi hành vị đoàn

trưởng cho xe mình đi trước dẫn đường, đến chỗ đứa bé nằm, cặp bò đứng khựng lại,

bị chủ la hét thúc giục, chúng lại lộn nài bẻ ống không chịu đi tới nữa. Vì cặp bò

hướng đạo sanh chứng, tháo trút như vậy, nên cả đoàn xe phải dừng lại. Vị đoàn

trưởng đang mãi đứng loay hoay gác ách lên cổ bò thì trời rựng sáng.



Khi ấy ông trưởng đoàn lái buôn nhìn xuống đường để xem coi: “Tại sao mấy

con bò sanh chứng kì vậy?”, khi trông thấy đứa hài nhi ông mừng thầm: “Hay lắm,

công việc nầy thật phù hợp với vợ ta”, rồi ông bồng đứa bé lên và đem nó về nhà.


Thấy Kālī về, ông Thiên hộ lật đật hỏi thăm, khi nghe đứa tớ gái tường thuật hết

sự tình, ông lại sai nó đi:


- Thôi con ráng đi một lần nữa, đem một ngàn đồng vàng nầy chuộc nó đem về

đây.


Con nữ tỳ làm theo lời chủ dặn.


Ông Thiên hộ lại bảo nó: “Bây giờ con đem thằng nhỏ bỏ vào bãi tha ma, để cho

cầm thú, nhất là chó mèo nhai xương nó, cho phi nhân, ngạ quỷ đánh đập nó chết đi,

chừng con thấy nó thật chết rồi thì về cho ông biết tin”.


Kālī lại mang đứa hài nhi ra đi, quạ hay là các giống phi nhân đều không dám

xáp lại gần kề bên nó, nó chỉ có một mình trơ trọi, chẳng có cha, có mẹ, có anh chị

nào khác bảo bọc, che chở cho nó hết cả. Vậy thì ai hộ trì nó? Đó là nhờ phước nó đã

tạo trong kiếp chó, bằng cách sủa kêu Đức Độc Giác Phật với tâm trìu mến, hộ trì cho

nó vậy.


Khi ấy có một người chăn dê, đuổi hằng trăm ngàn con dê ra đồng cỏ cho ăn, đi

xuyên qua bãi tha ma, một con dê cái đi kiếm lá cây ăn, nên tách ra đi riêng, chui vào

một bụi rậm, thấy đứa bé nó dừng lại, quỳ hai gối đưa vú cho đứa bé bú, nghe người

chăn giả tiếng kêu “be be”, nó cũng không chạy ra, người nầy định bụng ta sẽ đập cho

nó mấy gậy.


Khi chui vào chỗ lùm cây bụi rậm, thấy con dê cái đang đứng chàng hảng cho

đứa bé nút sửa của nó, người chăn dê cảm thấy thương đứa bé ấy như con mình, bèn

tri hô lên rồi ẵm nó đem đi.


Con Kālī mục kích được chuyện nầy, trở về phúc trình tường tận cho ông phú hộ

biết, ông ta lại sai nó mang một ngàn đồng tiền vàng chuộc đứa bé mang về và nó lại

thi hành mệnh lệnh của chủ.


Khi ấy, ông Thiên hộ lại dặn dò cô tớ gái thân tín: “Nầy Kālī con! Phen nầy con

ráng đem thằng nầy trèo lên núi, tới chỗ vực thẳm mà người ta sẽ xô bọn cướp xuống

hành hình (Corappabbata), con vứt nó xuống hố sâu cho nó va chạm vào vách đá đập

nát thây nhi, chừng con thấy nó rớt xuống đất thật chết rồi thì con về cho ông hay”.


Con nữ tỳ đai đứa bé, trèo lên chót núi rồi quăng nó xuống.


Ngay chỗ ấy, từ sườn núi phía dưới có một lùm tre lớn theo khe đá nứt mọc lên,

trên đầu ngọn tre một đám cam thảo rừng (jiñjuka) bao phủ rậm rạp, đứa bé rơi nhằm

trong đó như là nằm trên tấm thảm to vậy.


Ngày ấy, ông thợ cả trong nhóm người đan thúng rổ cần dùng tre, ông ta xách

rựa đi với đứa con trai lên núi, đến chỗ lùm tre dọn gai ốc để đốn, bị động đứa trẻ

khóc ré lên. Nghe tiếng con nít khóc dậy, ông đốn tre nói: “Tiếng gì y như tiếng con

nít khóc vậy?”. Đoạn ông ta tìm lối trèo lên đầu ngọn tre, thấy đứa hài nhi ông mừng

rỡ tri hô lên: “Ta xí được đứa con trai”. Rồi ông bồng nó đem đi.


Con Kālī trở về gặp ông Thiên hộ, ông hỏi thì nó thấy sao nói vậy, tình thật khai

ngay, phú ông lại đưa ra một ngàn đồng vàng, biểu nó di chuộc đứa bé đem về cho

ông và nó cứ y lời, không dám cãi lịnh chủ.


Mặc dù bị dưỡng phụ là ông Thiên hộ lập phương nầy thế nọ để sát hại như thế,

đứa con trai mồ côi cũng chẳng hề hấn gì, nó lớn dần lên và được mọi người gọi là

Ghosaka (Lôi Âm công tử) vì tiếng nói của nó vang rền như sấm, nó như là cái gai

nhọn châm vào mắt Trưởng giả, ông ta thù ghét nó đến nỗi ông ta không muốn trông

thấy mặt nó, bị những ý tưởng đen tối ám ảnh, ông Thiên hộ lại cố tìm cho ra mưu kế

để giết nó cho khuất mắt mình, ông ta bèn đến chỗ ngụ của người làm nghề lò gốm và

nói:


- Chừng nào bạn đốt lò?


- Ngày mai.


Nghe vậy, ông Thiên hộ nói: “Thế thì bạn cứ cầm lấy một ngàn đồng tiền vàng

nầy mà xài, rồi tiếp theo làm việc nầy giúp tôi nhé!”.


- Việc chi vậy?


- Tôi có một thằng con nuôi, tôi sẽ sai nó đến đây bạn hãy dắt nó vào phòng kín,

lấy dao bén phân thây nó ra từng mảnh, ném vào lò hầm. Đây một ngàn đồng vàng

nầy tôi biếu trước cho bạn, khi nào xong việc tôi còn nhiều quà tặng thù lao cho bạn

nữa.


Chủ lò gốm nhận lời đáp: “Dạ thưa, được rồi”. Hôm sau, ông Thiên hộ cho đòi

Ghosaka (Lôi Âm) đến, bảo rằng:


- Con à! Hôm qua cha có đặt cho ông chủ lò gốm làm một công việc, giờ con

hãy đến nhắc ông ta như vầy: “Hôm qua cha tôi có đặt cho chú làm chuyện chi đó, thì

chú cứ làm đi”.


Công tử Ghosaka: “Dạ vâng”, rồi ra đi.


Khi ấy, con ruột của ông Thiên hộ đang chơi bắn cu li (Golakīḷā) với bọn trẻ,

thấy Ghosaka ra đi, kêu lại hỏi: “Anh Ghosaka, anh đi đâu đó?”.


- Cha sai anh đi đến nhà người chủ lò gốm có việc.


- Để em đi thế cho, mấy đứa nầy ăn của em nhiều đạn quá, anh hãy ở đây chơi,

gỡ lại giùm em.


- Anh sợ cha rầy lắm.


- Anh đừng sợ, để em đi đưa tin thế cho anh, em bị thua nhiều lắm, anh ráng gỡ

lại giùm em, trước khi em trở về nhà.


Công tử Ghosaka có tiếng là chơi bắn đạn rất giỏi nên con Trưởng giả mới theo

nài nỉ như vậy.


Sau cùng công tử chiều theo ý em và bảo: “Ừ thôi, thì em đến nhắc với chủ lò

gốm rằng: Nghe nói hôm qua cha tôi có đặt cho chú làm công việc chi đó vậy bây giờ

chú cứ làm đi”.


Cậu con ruột của ông Thiên hộ đến tìm gặp ông chủ lò gốm và nói y theo lời

Ghosaka đã dặn. Cậu ta không dè ông chủ lò gốm đã nhận tiền của cha cậu, nên y theo

mật ước, giết chết và phân thây cậu và ném vào lò hầm.


Công tử Ghosaka ở chơi bắn đạn, mãi đến chiều tối mới trở về nhà. Ông Thiên

hộ thấy cậu liền hỏi: “Ủa sao con chưa đi mà còn ở đây?”.


Công tử Ghosaka bèn cho dưỡng phụ biết lí do: Cậu không đi là vì em cậu đã

giành đi thế cho cậu.


Nghe vừa dứt lời, ông Thiên hộ tưởng như máu nóng sôi trào trong khắp người

ông, ông kêu thét lên hai tiếng: “Đừng giết,” rồi ông oằn oại chắp tay, lảo đảo đi đến

lò gốm vừa đi vừa than khóc: “Chú lò gốm ơi! Chú đừng có giết hại tôi hi hi, chú

đừng có giết hại tôi hi hi…”.


Chủ lò gốm thấy ông Thiên hộ đi đến vội vã chạy ra đón rước và cho biết rằng:

“Thưa ông chủ, xin ông đừng to tiếng việc ấy tôi đã thi hành rồi”.


Ông Thiên hộ bị mối sầu tựa như mối đè nặng tâm tư, nhưng ông chỉ còn nước

ngậm hờn, nuốt tủi, thầm ôm mối hận ngàn đời.


Đó là tội báo của kẻ nhiễm ô, manh tâm muốn hãm hại người trong sạch, đề cập

đến việc nầy, Đức Thế Tôn có thuyết bài kệ Pháp Cú được ghi trong phẩm Đao

Trượng (Hình phạt).


“Yo daṇḍena adaṇḍesu,

Appaduṭṭhesu dussati;

Dasannaṃ aññataraṃ ṭhānaṃ,

Khippameva nigacchati”.

“Vedanaṃ pharusaṃ jāniṃ,

Sarīrassa ca bhadanaṃ;

Garukaṃ vāpi ābādhaṃ,

Cittakkhepaṃ va pāpuṇe”.

“Rājato vā upassaggaṃ;

Abbhakkhānaṃ va dāruṇaṃ;

Parikkhayaṃ va ñātīnaṃ,

Bhogānaṃ va pabhaṅguṇaṃ”.

“Atha v’āssa agārāni,

Aggi ḍahati pāvako;

Kāyassa bhedā duppañño;

Nirayaṃ so’papajjati”.


“Cầm đao trượng đối tay không,

Ác nhân muốn hại người trong sạch thì,

Quả kia sẽ trả cấp kỳ,

Trong mười điều khổ, thọ y một điều:

Tâm thần đau đớn trăm chiều,

Hoặc thân ngộ nạn nát tiêu, rã rời,

Hoặc lâm bịnh nặng khổ đời,

Hoặc cuồng tâm, hóa ra người khùng điên,

Hoặc vua hình phạt, cùm xiềng,

Hoặc người vu cáo oan khiên tội tình,

Hoặc ly tán cả gia đình,

Hoặc là tài sản tan tành hư hao,

Hoặc là cửa rộng nhà cao,

Lửa hồng một ngọn cháy ào tan hoang.

Rã thây rồi, kẻ ngu ngoan,

Còn sa địa ngục chịu toàn khổ đau”



Tuy đau khổ vì con chết do lòng hiểm độc của mình, phú Trưởng giả vẫn chưa

tỉnh ngộ hối quá, mà lại càng ghét cay ghét đắng công tử Ghosaka, muốn thủ tiêu

ngay cậu cho khỏi xốn mắt, mỗi khi nhìn thấy cậu, ông lại moi óc tìm ra được một kế

khác “Ta sẽ sai thằng nầy đi đến mượn tay cậu quản lý ở Gāmasata (Ba Thôn) của ta

giết nó”.


Ông liền thảo một bức thư, đại khái nói rằng: “Thằng nầy là con nuôi của ta, nhờ

cậu giết nó chết và trừ cho mất xác, rồi ta sẽ đền công ơn xứng đáng”.


Trao phong thư cho công tử Ghosaka, phú ông hạ thấp giọng bảo rằng: “Nầy

Ghosaka con! Cha có một viên quản lý ở Gāmasata, con mau mang thơ nầy đến trao

tận tay ông ấy”.


Dặn dò xong, phú ông buộc bức thư cẩm nang vào vạt áo của cậu Ghosaka.

Chàng công tử nầy đã đến tuổi thiếu niên mà còn dốt chữ vì thất học. Từ bé đến giờ,

chàng bị người dưỡng phụ ác tâm cứ mãi tìm cách giết chàng cho khuất mắt, nhưng

chẳng thành công, có đâu mà chăm lo đến sự học vấn của chàng.


Vì thế, chàng ta vẫn vô tình để cho dưỡng phụ buộc cẩm nang, trong đó dựng

bản án của chàng vào vạt áo. Lúc ra đi chàng chỉ hỏi: “Thưa cha, con chưa có vật thực

chỉ để ăn theo đường”.


- Con khỏi cần đem theo vật thực cho mất công. Con đi giữa đường thì đến làng

mổ, nơi đó có ông Trưởng giả là bạn của cha, con ghé nhà ông ấy dùng cơm rồi hãy đi

nữa.


- Dạ thưa vâng!


Công tử Ghosaka cúi lạy từ giã dưỡng phụ, đi đến làng mổ hỏi thăm nhà ông

Trưởng giả, rồi đến gọi cổng thì gặp bà Trưởng giả.


- Cháu ở đâu lại đây? – Phú bà hỏi.


- Dạ thưa bác! Cháu ở thành nội. – Thiếu niên đáp


- Cháu là con ai?


- Dạ thưa bác cháu là con ông Thiên hộ.


- Phải cháu tên là Ghosaka không?


- Dạ thưa bác phải.


Bà Trưởng giả thấy mặt Ghosaka và nghe tiếng chàng đối đáp tự nhiên sanh lòng

mến thương chàng như con đẻ.


Ông bà Trưởng giả chỉ có một nàng tiểu thư tuổi vừa mới cặp kê, nhan sắc mỹ

miều, khả ái. Ông bà cắt riêng một đứa nữ tỳ để theo săn sóc và phục dịch cho tiểu

thư. Tiểu thư ở trên từng lầu thứ bảy, tối ngày chẳng hề bước chân ra khỏi căn phòng.


Bà Trưởng giả thấy con hầu của tiểu thư xuống lầu bèn kêu hỏi nó: “A hoàn ạ!

Mầy đi đâu vậy?”.


- Bẩm bà! Tiểu thư sai con đi chợ.


Bà Trưởng giả bảo: “Thôi mầy khoan đi chợ đã! Lại đây lo sửa soạn ghế cho

công tử ngồi, trải chiếu mời công tử nằm nghỉ đâu đó xong xuôi đàng hoàng, rồi hãy

đi chợ nghe”.


Con a hoàn vâng lịnh bà Trưởng giả, lo xong công việc rồi mới đi chợ. Khi nó

về, tiểu thư thấy nó đi lâu nên trách mắng, hăm he, nó bèn phân trần: “Thưa tiểu thư,

xin tiểu thư đừng giận, mắc bị có công tử Ghosaka là trưởng nam của ông Thiên hộ

mới đến, bà biểu phải làm công kia việc nọ cho công tử trước rồi hãy đi chợ sau, nên

em về trễ”.


Vừa nghe đến tên công tử Ghosaka, tiểu thư bỗng nhiên sửng sốt ngẩn ngơ: Tình

yêu công tử bộc phát như xuyên qua khỏi làn da, chạm đến tận xương tủy của nàng xử

nữ.


- Trong tiền kiếp công tử Ghosaka chính là chàng Kotuhaliko còn tiểu thơ là

nàng Kālī vợ của chàng, nàng nhờ để bát một bát cơm cúng dường Đức Phật Độc

Giác, nên kiếp nầy được sanh vào nhà đại phú, tình yêu chồng từ kiếp trước như lửa

bừng cháy lại, khiến cho nàng xúc động tâm tư. Bởi thế nên Đức Thế Tôn mới thuyết

kệ rằng:


“Pubbevasannivāsena,

Paccuppannahitena vā;

Evantaṃ jāyate pemaṃ,

Uppalaṃ va yathodaketi”.


“Xưa từng chung chạ ra vào,

Giờ nay tái ngộ, lòng nào chẳng lay.

Men tình vừa nhắp đã say,

Bèo xanh gặp nước ngày ngày gia tăng”.


Khi ấy, tiểu thư hỏi con a hoàn: “Công tử hiện nay ở đâu vậy em?”.


- Thưa cô! Công tử đang nằm ngủ trên giường.


- Công tử có cầm vật chi trên tay không?


- Thưa tiểu thư, ở vạt áo công tử có buộc một bức cẩm nang.


Tiểu thư nghĩ thầm: “Đó là thư từ chi vậy?”.


Trong khi công tử Ghosaka còn đang say giấc nồng, tiểu thư không cho cha mẹ

hay biết, rón rén lén xuống thơ phòng, mở lấy cẩm nang buộc nơi vạt áo của công tử,

đoạn trở lên khuê các, đóng cửa cài then mở thơ ra đọc, tiểu thư vốn là bậc văn hay

chữ giỏi, đọc suốt hết lời lẽ trong thơ rồi chép miệng than rằng: “Ôi! Công tử khờ

khạo làm sao, ai lại buộc theo vạt áo một bức thơ giết mình mà đi lang thang như vậy?

Nếu ta không thấy kịp còn chi là đời của công tử”.


Tiểu thư liền xé bỏ bức thư độc hại, nhái theo tuồng chữ và lời lẽ của ông

Trưởng giả vắn tắt như vầy: “Đây là trưởng tử của tôi tên là Ghosaka. Xin túc hạ thay

mặt tôi, tương lễ vật từ Gāmasata, lo cho nó đẹp duyên cùng ái nữ của ông Trưởng giả

bạn tôi, cắt chia nữa phần đất giữa làng chỗ túc hạ ở, cất một ngôi nhà xung quanh có

tường rào và thuê người canh gác cẩn mật phòng vệ chu đáo, xong rồi gởi thư phúc

đáp: “Tôi đã làm như vầy… như vầy…” thì ta hậu tạ chẳng dám quên ơn”. Thảo xong

bức thơ bỏ vào cẩm nang, tiểu thơ vội vã trở xuống chỗ Ghosaka đang ngủ, buộc trở

lại vào áo công tử như trước.


Ngủ một giấc đỡ mệt, công tử dậy dùng cơm trưa, rồi cất bước lên đường, đi

suốt cả đêm, sáng hôm sau công tử Ghosaka đến Gāmasata, gặp viên quản lý đang đi

công cán trong làng. Thấy Ghosaka viên quản lý bèn hỏi:


- Có việc chi vậy công tử?


- Cha tôi gởi thơ qua cho ông đây.


- Thư gì đâu, công tử cho tôi coi thử.


Tiếp lấy bức cẩm nang viên quản lý mở thơ ra đọc rồi phân bua với dân làng:

“Bà con ơi! Bà con coi đây, ông chủ thương tôi hết mình, ông gởi thư biểu tôi: “Hãy

lo cưới vợ cho trưởng nam của ta”. Vậy anh em hãy ráng lo sắp đặt củi nước sẵn sàng

nghe chưa”.


Phân chia công tác cho các gia chủ dự bị cuộc lễ hôn phối xong viên quản lý

khiến dọn miếng đất gọn gàng giữa làng và lo kiến tạo một ngôi nhà mới.


Kế đó viên quản lý sắp sanh lễ vật cầu hôn, đến rước tiểu thư ái nữ của ông

Trưởng giả về cử hành lễ tân hôn và tân gia cho công tử Ghosaka, đoạn cho người báo

hỷ tín cho ông Thiên hộ biết: “Tôi đã phụng hành mệnh lệnh Thiên hộ, làm như

thế…như thế…”.


Tiếp được hỷ tín, ông Thiên hộ càng thêm tức tối bội phần, ngày đêm vào thở ra

than: “Việc ta chủ mưu sao không thành, còn việc ta không chủ mưu thành sự như thế

làm chi”.


Lớp sầu con chết, lớp giận Ghosaka, hai mối ưu phiền dồn dập, khiến ông Thiên

hộ phát chứng đau bụng sanh ra kiết lỵ.


Đây nói về tiểu thơ con ông Trưởng giả, khi về ở nhà mới, nàng dặn dò hết các

gia tộc: “Nếu có người nhà của ông Thiên hộ qua đây, mà chưa gọi sai biểu các người

thì các người khoan đi báo tin cho công tử biết nghe không?”.


Còn ông Thiên hộ nằm trên giường bịnh, ông tính một mình: “Nghĩa tử là kẻ

ngoại thân, ta nhất định sẽ không lập nó lên là kẻ thừa kế sản nghiệp của ta”.


Nghĩ rồi, ông cho đòi quản gia đến bảo rằng: “Nầy cậu, ta muốn gặp mặt nghĩa

tử của ta. Vậy cậu sai một đứa bộ hạ đi kêu nó về đây!”.


- Dạ thưa vâng! – Viên quản lý đáp, rồi ông ấy thảo một bức thư, trao cho một

gia đinh cầm đi qua Gāmasata để rước công tử Ghosaka.


Khi nghe tin báo có đứa gia đinh của ông Thiên hộ mới qua, còn đứng ngoài

cổng ngõ chờ lịnh, tiểu thư con ông Trưởng giả cho gọi nó vào nhà và hỏi: “Cậu qua

đây có việc chi?”.


- Thưa tiểu thư, ông Thiên hộ bịnh, sai con đi rước công tử về cho ông thấy mặt.


- Nầy, cậu thấy ông bịnh mà còn khỏe hay yếu sức rồi?


- Thưa tiểu thư, ông còn khỏe, thấy ông vẫn ăn uống như thường?


- Thôi được, cậu cứ ở lại đây chơi, đợi lúc nào cô bảo về hãy về.



Tiểu thơ lấy tiền thưởng công cho tên gia đinh, sai người dọn chỗ cho nó ở lại,

nhưng cấm tuyệt không ai được thông báo cho công tử biết.


Ông Thiên hộ nằm chờ tin, lại hỏi viên quản gia: “Sao lâu quá vậy cậu! Hay là

cậu chưa sai đứa nào kêu con ta về đây phải không?”.


- Dạ thưa Thiên hộ, tôi đã sai gia đinh đi rồi, nhưng nó chưa về.


- Nếu vậy, cậu sai đứa nào khác đi tiếp theo coi.


Viên quản gia lại sai thêm một tên gia đinh khác. Đứa sau nầy qua Gāmasata

cũng bị tiểu thư đón hỏi thăm tin và lưu giữ lại như đứa trước.


Bịnh tình của ông Thiên hộ bỗng đâu biến chứng trở nên trầm trọng, cơm cháo

ông cho vào một bát thì cũng cho ra một bát. Lần thứ ba, ông hỏi viên quản gia: “Sao

lâu giữ vậy? Hay cậu không cho đứa nào đi gọi con ta về?”.


- Thưa Thiên hộ, tôi đã sai thêm đứa khác đi nữa rồi, nhưng nó cũng chưa về.


- Thế thì hãy sai thêm đứa khác đi nữa đi.


Viên quản gia lại sai thêm đứa khác đi qua rước công tử.


Đứa gia đinh thứ ba nầy cũng bị tiểu thư đón lại hỏi thăm: “Bịnh tình của ông

Thiên hộ lúc nầy ra sao?”. Nó đáp: “Thưa tiểu thư ông Thiên hộ bịnh nặng lắm, ông