top of page

Tích Truyện Kinh Pháp Cú 91 - TRƯỞNG LÃO MA HA CA DIẾP BỊ CHÊ

Đã cập nhật: 13 thg 7



“Uyyuñjanti satīmanto, Na nikete ramanti te; Haṃsā’va pallalaṃ hitvā, Okamokaṃ jahanti te”.

"Tự sách tấn, chánh niệm,

Không thích cư xá nào,

Như ngỗng trời rời ao,

Bỏ sau mọi trú ẩn."


Kệ Pháp cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến Trưởng lão Mahākassapa (Ma Ha Ca Diếp).


Thuở nọ, Đức Bổn Sư nhập hạ gần thành Rājagaha (Vương Xá), đến khi mãn an

cư, Ngài tuyên bố với chư Tỳ khưu:

“Nửa tháng nữa Ta sẽ đi vân du”. Theo truyền ngôn: Chư Phật có phận sự đi vân

du hành đạo với các Tỳ khưu, khi các Ngài muốn đi, chư Tỳ khưu được thông báo

trước như thế, để có thì giờ chuẩn bị những vật dụng mang theo mình, nhất là đốt bát

và nhuộm y để khi đi được an vui. Do đó, Đức Bổn Sư mới thông báo cho các Tỳ

khưu: “Từ nay đến nửa tháng nữa, Ta sẽ đi vân du”.


Chư Tăng mạnh ai nấy lo phận sự của mình, nhất là đốt bát. Chính Trưởng lão

Mahākassapa cũng giặt những chiếc y của mình, nhiều vị Tỳ khưu than phiền: “Tại

sao Trưởng lão lại giặt y? Nơi thành nầy cả bên trong lẫn ngoài, số dân cư là một trăm

tám mươi triệu, những người không phải là quyến thuộc của Trưởng lão đều là những

thiện tín của Trưởng lão, còn những ai không phải là Thiện tín đều là quyến thuộc của

Trưởng lão cả. Ai ai cũng đều tôn kính, trọng đãi, dâng cúng tứ vật dụng đến Trưởng

lão, thế mà Trưởng lão từ bỏ bấy nhiêu sự hộ độ đó, để rồi đi đâu? Vả lại, nếu có đi

thì chỉ lên hang đá Đừng Dễ Duôi (Māpamāda) không đi qua nơi khác”.


Theo truyền thuyết, sau khi Đức Thế Tôn đến một hang đá nào, Ngài thường bảo

chư Tỳ Khưu có phận sự phải trở về chùa.

“Từ bây giờ, các Thầy hãy quay trở lại, đừng dễ duôi”. Do đó mới có tên hang

đá Đừng Dễ Duôi mà Chư Tăng nói đến ở trên.


Trong khi sắp đi vân du, Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Nơi thành nầy, bên trong lẫn

bên ngoài có đến một trăm tám mươi triệu dân cư, các Tỳ khưu còn phải đi đến những

nơi hạnh phúc hoặc bất hạnh của nhiều người. Ta không thể bỏ tịnh xá trống không,

vậy ta sẽ cho vị Tỳ khưu nào quay trở lại?”.

Rồi Đức Bổn Sư quyết định: “Dân chúng ở thành nầy đều là quyến thuộc và

thiện tín của Kassapa (Ca diếp). Vậy Kassapa nên quay trở lại”.

- Lành thay! Bạch Ngài.


Trưởng lão bèn dắt đoàn đệ tử của mình quay trở lại. Các Tỳ khưu than phiền:

“Các đạo hữu thấy chưa? Chúng tôi há chẳng nói trước rồi sao, Trưởng lão

Mahākassapa giặt y làm gì? Trưởng lão sẽ không đi chung với Đức Bổn Sư đâu?

Chúng tôi đã nói điều gì thì bây giờ quả đúng y như vậy”.



Đức Bổn Sư nghe các Tỳ khưu nói chuyện, bèn đứng quay mặt lại và hỏi rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, các Thầy nói đến chuyện gì đó.

Các Tỳ khưu đáp : “Bạch Ngài ! Chúng con nói đến Trưởng lão Mahākassapa”.


Rồi các Tỳ khưu đem hết mọi lời đàm luận của mình trình lên Đức Bổn sư. Nghe

xong, Đức Bổn Sư bảo:

- Nầy các Tỳ khưu ! Các Thầy nói rằng: “Kassapa lưu luyến quyến thuộc, họ

hàng, tứ vật dụng”. Nhưng Kassapa chỉ vâng lời Ta mà quay trở lại thôi. Quả vậy,

trong tiền kiếp Mahākassapa đã từng phát nguyện không quyến luyến tứ vật dụng, ví

như mặt trăng có thể đến gần họ hàng quyến thuộc mà không bị vướng bận bởi những

họ hàng và tứ vật dụng đó”. Đức Bổn Sư nhắc lại lời nguyện đó của Trưởng lão

Mahākassapa là: “Tôi nguyện hành đạo của Bậc Thánh Nhân, ví như mặt trăng noi

theo lộ trình (quĩ đạo) của nó, chớ không bám víu vào những họ hàng và tứ vật dụng

ấy”.


Các Tỳ khưu lại hỏi Đức Bổn Sư: “Bạch Ngài, Trưởng lão đã nguyện vào lúc

nào?”.

- Nầy các Tỳ khưu, các Thầy có muốn nghe không?

- Thưa vâng, bạch Ngài.


Đức Bổn Sư thuyết lại Bổn sanh:

- Nầy các Tỳ khưu, cách đây khoảng trăm ngàn đại kiếp, có vị Phật Chánh Đẳng

Giác Hồng danh là Padumuttara (Thượng Liên Hoa) giáng sanh... Kế đó, Đức Bổn sư

thuật luôn sự hành đạo phát nguyện đầu tiên của Trưởng lão Mahākassapa trong tiền

kiếp ấy. Sự tích nầy trong kinh tạng Pāḷi có giải rành.


Sau khi nhắc lại đầy đủ hạnh nguyện của Trưởng lão, Đức Bổn Sư nói: “Nầy các

Tỳ khưu! Con trai ta là Mahākassapa đã từng phát nguyện lần đầu tiên: “Ta nguyện

hành đạo của Bậc Thánh nhân, ví như mặt trăng tuân theo quỹ đạo của nó”, cho nên

đối với con trai Ta, sự quyến luyến trong tứ vật dụng, họ hàng, hoặc chùa, am, tịnh

thất, nhất thiết đều không có nơi con trai Ta. Ví như con hạc chúa, sau khi đáo xuống

một cái hồ, đi vơ vẩn đó đây rồi bay đi nơi khác, không có một chút gì luyến tiếc”.


Đức Bổn sư tóm tắt ý nghĩa của sự tích, thuyết lên thời pháp và ngâm kệ rằng :


“Uyyuñjanti satīmanto, Na nikete ramanti te; Haṃsā’va pallalaṃ hitvā, Okamokaṃ jahanti te”.

"Tự sách tấn, chánh niệm,

Không thích cư xá nào,

Như ngỗng trời rời ao,

Bỏ sau mọi trú ẩn."



46 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Comments


bottom of page